Căn bệnh được mệnh danh "kẻ treo cổ" đáng sợ đến nhường nào?

Thứ năm, 12/10/2017 | 14:45 GMT+7

Là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra, bạch hầu được mệnh danh là "kẻ treo cổ".

Sau nhiều năm "im ắng", bệnh bạch hầu đã có dấu hiệu xuất hiện trở lại. Điển hình, cách đây ít ngày, thông tin từ Sở Y tế Quảng Nam cho biết, đơn vị vừa có báo cáo gửi cơ quan chức năng về một ổ dịch nghi bạch hầu tại trường tiểu học xã Trà Vân, huyện miền núi Nam Trà My.

Các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu với các triệu chứng sốt, sưng hạch cổ, ăn uống khó khăn. Kết quả xét nghiệm sơ bộ ngày 5/10 cho thấy, 7/7 ca nghi ngờ đều dương tính với vi khuẩn bạch hầu. Trong đó, 1 trường hợp đã tử vong.

Vậy căn bệnh này đáng sợ tới mức nào?

Biểu hiện bệnh có thể từ nhẹ đến nặng, thường có giả mạc màu trắng ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi, có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác. Ảnh: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

Theo y khoa, bạch hầu là một bệnh cấp tính gây dịch do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Người mắc bệnh bạch hầu thường có tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng và có thể dẫn đến tử vong. Dù bệnh này đã có vaccine phòng bệnh, nhưng vẫn có thể có các vụ dịch xảy ra ở những khu vực có tỉ lệ tiêm chủng thấp.

Phương thức lây lan

Người bệnh bạch hầu ho, hắt hơi sẽ làm bắn ra những giọt nhỏ mang vi khuẩn. Nếu một người chưa có miễn dịch với bệnh bạch hầu hít phải những giọt này thì có thể mắc bệnh. Một số rất hiếm các trường hợp có thể lây truyền trực tiếp qua tiếp xúc.

Thường một người bệnh nếu không được điều trị có thể gây phát tán vi khuẩn trong vòng 2 tuần, thậm chí có thể đến 4 tuần. Một số ít người mang vi khuẩn mạn tính có thể phát tán mầm bệnh đến tận 6 tháng.

Tác hại của bệnh

Người mắc bệnh bạch hầu khi không được phát hiện và điều trị kịp thời để sẽ dẫn đến viêm cơ tim, tổn thương hệ thần kinh dẫn truyền cơ tim, tử vong do đột ngột trụy tim mạch. Một số bệnh nhân bị viêm cơ tim và van tim, sau nhiều năm gây ra bệnh tim mãn và suy tim. Ngoài ra, bệnh cũng có thể dẫn đến thoái hóa thận, hoại tử ống thận, chảy máu lớp tủy và vỏ thượng thận.

Sau khi được tiêm chủng đầy đủ, cơ thể sẽ sinh ra kháng thể giúp bảo vệ khỏi bệnh bạch hầu. Ảnh: TTXVN

Dấu hiệu nhận biết

Biểu hiện bệnh có thể từ nhẹ đến nặng, thường có giả mạc màu trắng ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi, có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục, trường hợp nặng có thể gây biến chứng và tử vong.

Trung bình, sau khi hít phải vi khuẩn 2-5 ngày, người bệnh sẽ phát bệnh. Tùy thuộc vào vị trí vi khuẩn gây bệnh, sẽ có các biểu hiện khác nhau:

Bệnh bạch hầu mũi trước: Bệnh nhân sổ mũi, chảy mũi ra chất mủ nhầy đôi khi có lẫn máu. Khi khám thầy thuốc có thể thấy màng trắng ở vách ngăn mũi. Thể bệnh này thường nhẹ do độc tố vi khuẩn ít thâm nhập vào máu.

Bệnh bạch hầu họng và amiđan: Bệnh nhân mệt mỏi, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhẹ. Sau 2-3 ngày, sẽ xuất hiện một đám hoại tử tạo thành lớp giả mạc màu trắng xanh, dai và dính chắc vào amiđan, hoặc có thể lan rộng bao phủ cả vùng hầu họng. Thường thể bệnh này các độc tố ngấm vào máu nhiều và có thể gây tình trạng nhiễm độc toàn thân. Một số bệnh nhân có thể sưng nề vùng dưới hàm và sưng các hạch vùng cổ làm cổ bạnh ra như cổ bò. Những trường hợp nhiễm độc nặng bệnh nhân sẽ phờ phạc, xanh tái, mạch nhanh, đờ đẫn, hôn mê. Các bệnh nhân này nếu không được điều trị tích cực có thể tử vong trong vòng 6-10 ngày.

Bạch hầu thanh quản: Đây là thể bệnh tiến triển nhanh và rất nguy hiểm. Bệnh nhân thường biểu hiện bằng dấu hiệu sốt, khàn giọng, ho liên tục. Khi khám, bác sĩ có thể thấy các mảng giả mạc tại ngay thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống. Nếu không được xử trí kịp thời, các giả mạc này có thể gây tắc đường thở làm bệnh nhân tử vong nhanh chóng.

Bạch hầu các vị trí khác: Thường rất hiếm gặp và nhẹ, vi khuẩn bạch hầu có thể gây loét ở da, niêm mạc như niêm mạc mắt, âm đạo hay ống tai.

Phương thức điều trị bệnh

Khi có những biểu hiện nghi bạch hầu như: sốt, đau họng, xuất hiện giả mạc trắng xám trong họng, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được khám, phát hiện bệnh bạch hầu sớm và cách ly và điều trị kịp thời tại các cơ sở y tế có đủ điều kiện.

Bệnh nhân bị bệnh bạch hầu có thể được thầy thuốc chỉ định huyết thanh kháng độc tố để trung hòa các độc tố của vi khuẩn trong máu, sử dụng kháng sinh để diệt vi khuẩn. Những bệnh nhân bị bạch hầu thanh quản sẽ được mở khí quản tạo đường thở cho bệnh nhân nếu thanh quản bị giả mạc làm bít tắc. Bệnh nhân có biến chứng tim mạch sẽ được dùng các thuốc trợ tim, chống loạn nhịp tim.

Những người lành có tiếp xúc gần với bệnh nhân có thể cần điều trị dự phòng để ngăn ngừa vi khuẩn trước khi phát bệnh.

Phòng bệnh bằng cách nào?

Đối với người nhiễm bệnh Bạch hầu, cần cách ly bệnh nhân ít nhất 2 ngày sau điều trị kháng sinh thích hợp và đeo khẩu trang khi tiếp xúc. Ngoài ra cần vệ sinh phòng ở, đồ dùng cá nhân, đồ chơi… bằng dung dịch sát khuẩn.

Tiêm vắc xin là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh Bạch hầu. Hiện nay trong chương trình Tiêm chủng mở rộng, tất cả trẻ em sẽ được tiêm đủ 3 mũi vắc xin phối hợp 5 trong 1 phòng bệnh bạch hầu-ho gà-uốn ván-viêm gan B-viêm phổi, màng não do vi khuẩn Hib (DPT-VGB-Hib) lúc 2,3 và 4 tháng tuổi. Tiêm nhắc lại vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT) khi trẻ đủ 18 tháng tuổi. Việc trì hoãn tiêm chủng vì bất cứ lý do gì sẽ khiến cho trẻ có nguy cơ mắc bệnh.

Sau khi được tiêm chủng đầy đủ, cơ thể sẽ sinh ra kháng thể giúp bảo vệ chúng ta khỏi bệnh bạch hầu.

Tuy vậy, có một số ít người sức đề kháng không tốt, sau khi tiêm phòng không tạo kháng thể đủ để bảo vệ cơ thể thì vẫn có nguy cơ bị mắc bệnh bạch hầu. Một số người tiêm phòng đã quá lâu, nồng độ kháng thể trong máu xuống thấp thì cũng có thể bị mắc bệnh bạch hầu. Chính vì vậy, các chuyên gia khuyến cáo mọi người nên đi tiêm phòng nhắc lại sau mỗi 10 năm.

Vũ Đậu

bệnh bạch hầucăn bệnh bạch hầunhiễm khuẩnnhững điều cần biếtbạch hầutiêm chủngtiêm phòngvắc xin
Nguồn: nguoiduatin.vn

Xem thêm tin chuyên mục Đời sống