Thiếu phụ vướng vòng lao lý vì món quà của người tình

Thứ bảy, 17/09/2016 | 10:02 GMT+7

(ĐSPL) - Trong lúc khó khăn, túng quẫn, chị Minh được “người cũ” đem trả 10 triệu đồng nên rất vui mừng. Nhưng, niềm vui không kéo dài được lâu vì chị Minh phát hiện ra đây là tiền... giả. Mang số tiền đó đến “chất vấn” người cũ, anh này thừa nhận tiền giả nhưng không trả tiền thật cho chị Minh.

Biết rõ số tiền trên là tang vật phạm pháp nhưng vì tiếc của giời nên chị Minh lại không báo cho cơ quan chức năng mà giấu kỹ trong tủ quần áo. Đây chính là lý do khiến chị rơi vào vòng lao lý.

Tình vụng trộm tha hương

Nguyễn Thị Minh (30 tuổi) quê Nam Định nhưng đã lấy chồng gần chục năm nay và có một con gái 10 tuổi. Sau khi bị tai nạn giao thông, chồng chị Minh phải nghỉ mất sức khiến kinh tế gia đình rất khó khăn. Cách đây 2 năm, Minh quyết định ra Móng Cái, Quảng Ninh làm ăn, hàng tháng sẽ gửi tiền về cho chồng trang trải gia đình, đóng học cho con. Mặc dù bị chồng và bố mẹ chồng phản đối, nhưng Minh nhất quyết đi làm ăn xa. Trong thâm tâm, chị đã quá chán cảnh nghèo túng bên người chồng bệnh tật, đã không làm ra tiền lại còn độc đoán, gia trưởng. Minh đi làm ăn xa như một sự giải thoát khỏi cảnh sống tù túng, bần hàn.

Thiếu phụ vướng vào vòng lao lý vì tàng trữ tiền giả.

Ra Móng Cái, thời gian đầu Minh làm thuê ở khu vực chợ Móng Cái, công việc chủ yếu là gồng gánh, mang vác hàng. Công việc khá vất vả, tiền công lại rẻ mạt, nên mỗi tháng Minh chỉ dành dụm gửi cho chồng con được 1 triệu đồng. Sau đó, Minh cùng mấy chị em bạn chợ đánh liều đi sang bên kia biên giới làm thuê. Họ thuê một phòng trọ ở Pò Chài, thị xã Bằng Tường, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tại đây, Minh có cảm tình với một người đàn ông tên là Tài (40 tuổi, quê Thái Bình), làm nghề bán hàng rong. Chẳng biết Tài buôn bán những gì mà trông anh ta khá phong lưu lại nhiều tiền. Sau vài lần đánh mắt đưa tình, Tài đặt thẳng vấn đề với Minh là dọn sang ở chung, mỗi tháng Tài đưa tiền cho Minh gửi về cho con và gia đình.

Đang chăn đơn gối chiếc nên thiếu phụ trẻ đã chấp nhận “ghép đôi” với Tài. Hai người thỏa thuận rõ, trong thời gian “ở chung”, Minh phục vụ Tài như một người vợ. Bù lại, hàng tháng Tài chịu trách nhiệm trả tiền thuê nhà, tiền ăn ở và còn trả cho Minh 2 triệu đồng cho khoản “A đến Z” kia.

Từ đó, Minh trở thành “vợ hờ” của Tài. Có điều, Tài cũng chỉ nói mồm thế thôi chứ chưa thanh toán 2 triệu “tiền công làm vợ” hàng tháng cho Minh. Anh ta hứa khi nào được 10 triệu thì sẽ thanh toán cho Minh luôn thể. Mấy tháng trời không có tiền gửi cho con lại “vui duyên mới” nên Minh không mảy may nhớ về chồng và con ở Việt Nam đang ngày đêm mong nhớ. Chỉ đến khi nhận điện thoại của con gái, Minh mới thoáng day dứt lương tâm, nhưng rồi chị lại tặc lưỡi cho rằng, chẳng qua là tại hoàn cảnh xô đẩy mà thôi, với lại bất quá chị cũng chỉ “ăn vụng” vài tháng trong lúc vắng chồng. Hơn nữa, chị nghĩ ở đây xa nhà, ai biết đấy là đâu mà phải sợ?

Cuộc tình nơi xứ người chỉ tồn tại được hơn 5 tháng thì việc làm ăn thất bát, Tài “lặn không sủi tăm” khiến Minh phải nai lưng làm thuê để trả nợ tiền thuê nhà. Sau đó, quá chán chường nên Minh quyết định hồi hương.

Sau gần một năm đi làm ăn xa, Minh trở về quê trong tâm trạng ê chề, không đồng vốn, chỉ có bộ quần áo và gói bánh làm quà cho con. Mặc dù không ai biết việc Minh làm ở xứ người nhưng Minh luôn cay đắng, dằn vặt bản thân...

"Chết hụt" vì tàng trữa tiền giả

Sau một thời gian dài lặn mất tăm thì bỗng nhiên Tài tìm đến tận nhà Minh khiến thiếu phụ vừa mừng tủi, vừa lo sợ. Nhưng anh ta không làm gì ảnh hưởng đến đời sống riêng của Minh mà chỉ đến đưa cho Minh đủ 10 triệu đồng, nói là “trả nợ tình xưa”.

Minh vui mừng khi có được số tiền lớn, cầm trên tay tập tiền gồm 4 triệu tiền mệnh giá 500 ngàn đồng và 6 triệu tiền mệnh giá 200 ngàn đồng. Minh không dám tin đó là sự thật. Vội vàng đem giấu tiền vào hòm thóc trong buồng, thiếu phụ sung sướng nghĩ sẽ dùng tiền ấy để sắm sửa cho chồng con như để bù đắp cho những việc làm sai trái của mình trước đó.

Nhưng khi đem tiền đó đi tiêu, Minh mới biết đó là tiền giả. Quá bức xúc, Minh điện cho Tài thì anh ta thừa nhận đó là tiền giả, bảo Minh tiêu được thì tiêu, nếu không anh ta sẽ hoàn lại tiền thật cho Minh sau. Có điều, anh ta không thể trả cho Minh ngay, vì hiện anh ta đang bị công an điều tra, theo dõi gắt gao về hành vi liên quan đến tiền giả.

Biết số tiền mình đang cầm là tang vật phạm pháp nhưng vì tiếc của giời nên Minh lại không đem giao nộp cho cơ quan chức năng mà vẫn giấu kín trong tủ quần áo, đợi có cơ hội sẽ đem đi lưu hành hoặc đem trả lại người tình. Ai ngờ sự việc vỡ lở, Nguyễn Thị Minh cũng bị truy tố, xét xử về tội Tàng trữ tiền giả trong cùng vụ án với người tình cũ. Xét thấy hành vi phạm tội của Minh là do thiếu hiểu biết, ở mức độ ít nghiêm trọng nên Minh bị phạt 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo.


Luật sư Vũ Xuân Đoài (đoàn Luật sư TP.HCM) phân tích các quy định pháp luật liên quan đến tình huống này như sau:

Việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả có mức độ nguy hiểm cao đối với xã hội vì nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền an ninh tài chính quốc gia. Chính vì vậy BLHS tại Điều 180 đã quy định về tội Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm 4 hành vi làm (sản xuất), tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, với các hình phạt nghiêm khắc tương ứng theo mức độ của hành vi phạm tội. Mức hình phạt cao nhất của tội danh này lên tới tử hình.

Theo Nghị quyết 01 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn, thì khái niệm tiền giả ở đây bao gồm tiền Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả. Khái niệm ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành, nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam. Hành vi phạm tội và mức hình phạt quy định cụ thể như sau:

Đối với hành vi sản xuất tiền giả, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn, chỉ cần có hành vi sản xuất tiền giả có trị giá dưới 3 triệu đồng thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 180, BLHS, mức hình phạt quy định từ 3 - 7 năm tù. Nếu sản xuất tiền giả có trị giá từ 3 - 50 triệu đồng thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2, Điều 180, BLHS, có mức hình phạt quy định từ 5 - 12 năm tù. Nếu tiền giả có trị giá từ 50 triệu đồng đến 100 triệu thì hành vi phạm tội rất nghiêm trọng; nếu sản xuất tiền giả có trị giá từ 100 triệu đồng trở lên thì hành vi đặc biệt nghiêm trọng, mức án quy định từ 10 năm, 20 năm, chung thân hoặc tử hình.

Đối với tội Tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả: Nếu tiền giả có trị giá dưới 10 triệu đồng thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 180, BLHS, mức án quy định từ 3 - 7 năm tù. Nếu tiền giả có trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2, Điều 180, BLHS, mức án quy định từ 5 - 12 năm tù. Nếu tiền giả có trị giá từ 100 - 150 triệu đồng trở lên thì người phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; nếu tiền giả có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên thì phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, mức hình phạt quy định theo khoản 3, Điều 180, BLHS từ 10 năm, 20 năm, chung thân hoặc tử hình.

Ngọc Châu

Xem thêm video:

Tin tài trợ
tiền giảcướp tài sản của kháchvòng lao lýđịa điểm chụp ảnh áo dài ở Hà NộiPháp luật

Xem thêm tin chuyên mục Pháp luật