Ly hôn khi vợ hoặc chồng mất tích khỏi nơi cư trú?

Thứ bảy, 23/07/2016 | 06:00 GMT+7

(ĐSPL) - Để ly hôn với người chồng hiện đang mất tích, trước hết, chị phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố người chồng mất tích.

Hỏi: Tôi kết hôn năm 2009. Năm 2011, chồng tôi đi làm ăn cùng mấy người bạn và biệt tích cho đến nay dù tôi đã đi hỏi thăm rất nhiều nơi, đã đăng báo tìm kiếm và rải thư tìm kiếm nhiều nơi. Hiện nay, tôi đang có ý định đi bước nữa với người đàn ông khác nhưng không biết làm thế nào để ly hôn với người chồng đang mất tích. Xin hãy cho tôi biết tôi phải làm như thế nào?

Ly hôn khi vợ hoặc chồng mất tích khỏi nơi cư trú?

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến trang Tư Vấn của báo Đời Sống & Pháp Luật. Vấn đề này chuyên gia tư vấn luật Trần Thị Hậu - Công ty Luật hợp danh FDVN ĐÀ NẴNG đưa ra ý kiến như sau:

Trong trường hợp này, theo quy định pháp luật, chị vẫn đang là người có chồng, vì thế chị cần phải thực hiện thủ tục ly hôn, chấm dứt quan hệ hôn nhân mới có quyền kết hôn lại. Để ly hôn với người chồng hiện đang mất tích, trước hết, chị phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố người chồng mất tích. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 78 Bộ luật dân sự 2005, khi một người biệt tích từ 02 năm trở lên mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Như vậy, dù chồng chị đã biệt tích từ 5 năm trước nhưng để yêu cầu Tòa án tuyên bố người chồng mất tích, chị cần phải thực hiện đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Sau đó, khi có căn cứ thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 78 Bộ luật Dân sự 2005 nêu trên, Tòa án sẽ tuyên bố chồng chị mất tích. Khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố người chồng mất tích có hiệu lực, chị có quyền yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 78 Bộ luật Dân sự 2005; Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân – Gia đình 2014.

Như vậy, chị cần thực hiện theo trình tự 02 thủ tục sau:

Thủ tục 01: Yêu cầu Tòa án tuyên bố người chồng mất tích.

Chị cần nộp Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người chồng cư trú cuối cùng. Đơn yêu cầu phải đảm bảo các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011), gồm: Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) bao gồm:

1. Ngày, tháng, năm viết đơn;

2.Tên Toà án có thẩm quyền giải quyết đơn;

3.Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

4.Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó;

5.Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có;

6.Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu;

7.Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn. Gửi kèm theo Đơn yêu cầu là chứng cứ để chứng minh người chồng đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về người chồng còn sống hoặc đã chết và chứng cứ chứng minh cho việc chị đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm.

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong 03 số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương 03 lần trong 03 ngày liên tiếp. Thời hạn thông báo là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (Điều 331 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)). Sau đó, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn công bố thông báo, Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Trong trường hợp chấp nhận đơn thì Tòa án ra Quyết định tuyên bố mất tích.

Thủ tục 02, sau khi Quyết định của Tòa án về việc tuyên bố người chồng mất tích có hiệu lực, chị cần thực hiện thủ tục ly hôn theo yêu cầu một bên quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân - Gia đình 2014.

Theo đó, chị cần nộp Đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị đang cư trú để thực hiện thủ tục ly hôn. Tòa án sẽ giải quyết cho chị ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 này. Kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân giữa chị và người chồng đang mất tích sẽ chấm dứt (Khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân – Gia đình 2014). Khi đó, chị có quyền thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn còn lại theo quy định của luật Hôn nhân – Gia đình 2014.

Như vậy, để kết hôn lại, chị cần thực hiện theo trình tự 02 thủ tục mà chúng tôi vừa nêu trên.

Hy vọng rằng sự tư vấn sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì xin gửi về báo Đời sống & Pháp luật.

HUY LÂM
Nguồn: Người đưa tin
Cập nhật các bài viết liên quan tại chuyên mục : Đọc báo an ninhTin nhanh pháp luật
Ly hônthủ tục ly hôntuyên bố mất tíchđơn phương ly hônkết hônthủ tục kết hônĐọc báo an ninhphap luat 24hPhap luat hinh sutin tuc phap luatDao phap luat moiBao hinh suTin nong hinh suAn ninh phap luatBao moi phap luatHinh su 24hĐọc báo pháp luậtTin hình sự mới nhấtBao an ninh phap luatBao phap luat hang ngay

Xem thêm tin chuyên mục Pháp luật