Chuyện chưa kể về người lính cảm tử thăm lại “mộ” của chính mình

Thứ tư, 04/05/2016 | 07:27 GMT+7

(ĐSPL) - Làn đạn quân thù xối xả rít lên từng cơn, mảnh đạn pháo găm trúng đầu khiến ông gục xuống địa đạo. Tưởng ông hy sinh, mọi người đào huyệt mộ chôn vội ông rồi lui quân tránh tổn thất thêm lực lượng.

Kỳ diệu thay, ngày hôm sau, ông tỉnh dậy rồi tiếp tục cầm súng chiến đấu. Hôm nay đây, khi về thăm lại “mộ” của chính mình, những xúc cảm mãnh liệt về một thời lửa đạn vẫn vẹn nguyên trong tâm người lính già.

Cựu binh Trần Duy Tung trao đổi với PV.

Đối mặt với cái chết

Giữa không khí tưng bừng, đỏ rực cờ hoa 41 năm Giải phóng miền Nam (30/4/1975) đang đến gần cũng là lúc những cựu binh già trong tiểu đội Cảm tử (thuộc huyện đội Bắc Tam Kỳ cũ, nay là huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) lại có dịp tay bắt mặt mừng.

Họ rôm rả trò chuyện ôn lại ký ức xưa. Trong số ấy, câu chuyện về người cựu binh Trần Duy Tung (SN 1950, trú thôn Ngọc Mỹ, xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), mang đến những xúc cảm đặc biệt bởi, ông là người được về thăm lại “mộ” của chính mình.

Trong câu chuyện, những cảm tử quân đưa chúng tôi về lại với xứ Quảng thời binh lửa. Theo lời các cựu binh, họ lớn lên trong cái nôi cách mạng, căm thù quân xâm lăng nên đều tham gia cách mạng từ 14, 15 tuổi. Thế rồi sau này, họ được về tiểu đội Cảm tử.

Huy hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ của ông Tung. Ảnh: Nhâm Thân.

Tiểu đội gồm những người lính trẻ nhưng tinh nhuệ và chiến đấu ở những mặt trận ác liệt nhất. “Tiểu đội chúng tôi có 9 anh em. Trẻ lắm, toàn mười tám, đôi mươi. Tôi vinh dự được đứng trong hàng ngũ ấy cùng đồng đội làm nên những trận đánh ác liệt, oai hùng”, giọng cựu binh Trần Duy Tung bỗng hào sảng. Khi ấy, đơn vị của ông được giao nhiệm vụ bảo vệ cứ điểm Dương Đá Bầu (nay thuộc xã Tam Vinh, huyện Phú Ninh).

Theo lời ông, đây là núi đá cao, vị thế đắc địa có thể bao quát cả một tầm nhìn rộng lớn từ trên núi. Hơn hết, từ núi này có thể dễ dàng bắt mối liên lạc với nhiều cứ điểm khác như Tiên Phước, Cẩm Khê...

Vì điều này, địch năm lần bảy lượt xô quân càn quét nhưng vấp phải ý chí sắt đá của tiểu đội Cảm tử. Cả đơn vị đóng quân ở dưới núi, được nhân dân địa phương che chở. Ở trên núi là hầm công sự, vũ khí. Tất cả luôn trong tâm thế chiến đấu ngày đêm.

Nói đến đây, ông bỗng khựng lại hồi lâu rồi chậm rãi:“Hễ lễ trọng đại, ngày lễ kỷ niệm giải phóng miền Nam đến, tôi lại nôn nao nhớ về chiến trường, nhớ đồng đội và nhớ về một trận đánh lịch sử”. Đó là buổi trưa năm 1968, lính Mỹ đổ bộ quy mô lớn lên hàng loạt cứ điểm thuộc tỉnh Quảng Nam.

Trong số ấy, nhiều cánh quân chủ lực của địch được thăng vận thẳng đến hai ngọn núi U Bò và Ba Đầu chỉ cách Dương Đá Bầu (nơi đơn vị ông Tung đóng quân – PV) chưa đến 4km. Lực lượng kháng chiến của ta nhanh chóng nhận ra âm mưu tạo thế gọng kìm siết chặt Dương Đá Bầu của địch nên lệnh cho đội Cảm tử sẵn sàng chiến đấu.

Đúng như dự đoán, lính dã chiến Mỹ chia làm hai cánh tiến xuống vây chặt các làng xã dưới chân núi. Theo lời ông, một đồng đội trong tiểu đội Cảm tử hy sinh khi chiến đấu tại đây. Những anh em còn lại tổ chức lực lượng, chia làm 3 mũi giáp công sẵn sàng nghênh chiến.

“Chúng xả súng liên hoàn rồi mở các đợt tấn công liên tiếp từ 9h sáng hôm ấy đến tận nửa đêm. Anh em vẫn chiến đấu ngoan cường. Giữa lằn ranh sinh tử ấy, chúng tôi bẻ gãy từng đợt tấn công của địch. Cuộc chiến diễn ra đến đêm khuya thì đơn vị nhận lệnh tạm rút ra xa để củng cố lại lực lượng.

Bỗng! Ngay lúc ấy, một loạt đạn của địch rít lên, tôi bị mảnh đạn của pháo địch găm vào đầu, gục xuống”, ông Tung hồi tưởng. Tiếng súng lắng dần! Hơn một ngày sau, ông tỉnh dậy thì thấy xung quanh tối om. Vết thương đau nhói.

Ông cảm nhận rõ ràng có khối đất đá đang đè chặt lên người. Dốc hết chút sức lực cuối cùng, người lính cảm tử cố vùng vẫy đôi chân hất dần lớp đất rồi vùng ra khỏi lớp đất đá. Ngóc đầu lên, gió núi ùa thẳng vào mặt.

Xung quanh mùi đạn khói vẫn nồng nặc. “Chỉ mới đây tiếng đạn còn rền vang thì giờ không gian im ắng không tưởng. Dưới núi pháo sáng thi thoảng chớp rền trời. Tôi tỉnh dậy, nghĩ anh em cũng bị bom vùi giống mình nên quờ quạng khắp nơi. Không thấy ai, tôi lại nghĩ anh em đã bị bắt hết hay đã rút đi rồi.

Cần phải rút khỏi nơi đây càng sớm càng tốt, vì nếu địch quay trở lại trận địa thì rất nguy hiểm. Gượng hết sức mình, với vết thương bắt đầu rỉ máu lại trên đầu tôi vừa bò vừa lết về hướng an toàn”, ông chia sẻ lại phút giây xưa.

“Tôi về thăm lại mộ tôi”

Cũng theo lời người lính này, từ đỉnh núi về căn cứ an toàn không xa và đi theo lối mòn bí mật. Nhưng do kiệt sức, mãi đến hơn 2h sáng hôm sau ông mới đến nơi. Căn cứ an toàn hiện ra, phía trong ánh đèn dầu le lói, không một tiếng động.

Ông Tung trong những năm tháng kháng chiến. Ảnh: Nhâm Thân.

Ông Tung kể lại: “Tôi gõ nhẹ cửa hỏi: “Có phải V12 (bí danh) đó không. Mình là Tung đây”. Một đồng đội trong nhà hỏi lại: “Tung nào? Người hay là ma vậy”! Lúc này tôi thấy ngờ ngợ, đúng tiếng đồng đội mình nhưng sao lại hỏi vậy.

Rồi 3 anh em trong đơn vị còn sống trong nhà chạy ùa ra: “Trời ơi! Tung thiệt không? Cậu chết rồi cơ mà”! Anh em ôm rồi sờ nắn khắp người tôi, miệng cứ nói: “Cậu còn sống thật rồi”. Kể đến đây, ông Tung đưa tay gạt vội dòng nước mắt. Gặp đồng đội, ông mới vỡ lẽ.

Thấy ông trúng đạn, mọi người tưởng ông hy sinh nên dùng đất đá lấp lên người tạo cho ông một huyệt mộ tránh quân địch phát hiện. Sau đó, đồng đội của ông rút quân theo lệnh. Khi đó, vừa nói đồng đội vừa ôm, vừa xin lỗi ông.

Mừng mừng tủi tủi, họ ôm nhau khóc. Sáng hôm sau, tiểu đội lại lên đường trị thương, chiến đấu. Hòa bình lập lại, bước ra trong bom đạn, chứng kiến bao sự hy sinh, mất mát, với tâm niệm trả nợ cho đời, ông cùng nhiều cựu binh khác đi tìm lại các hài cốt đồng đội, quay về chiến trường thăm gặp các mẹ, các dì năm xưa đã che chở, bảo bọc cho đơn vị.

Chính trong những năm tháng lặn lội ấy, người lính già lại bắt gặp nhiều số phận không may, thôi thúc ông bắt tay vào nhiều công tác từ thiện, khuyến học. Trải qua nhiều vị trí, nhiều công tác, hiện ông là Phó Chủ tịch hội Khuyến học TP. Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam).

Mới đây, trong lần về thăm lại chiến trường xưa, những kỷ niệm lại ùa về. Ông xúc động viết nên đôi câu thơ mộc mạc mà chân tình được gửi gắm qua bài “Tôi về thăm mộ của tôi” một cách đầy sâu lắng. Bài thơ là 40 câu lục bát dẫu còn đơn giản nhưng ẩn sau những dòng thơ ấy là một số phận đặc biệt về người sống mang mộ.

“Mộ không chỉ riêng tôi. Mà đó là nơi những đồng đội tôi đã ngã xuống thật sự, chỉ có tôi là trở về. Làm bài thơ này nhưng tôi không dám đọc. Bởi đọc là khóc vì thương nhớ đồng đội vô vàn”, nói đoạn ông rưng rưng đưa chúng tôi đoạn chép tay bài thơ rồi khẽ đọc: “Tôi về thăm lại mộ tôi/ Nằm trên đỉnh núi, cuối Dương Đá Bầu/ Bên hòn đá cũ sẫm màu/ Dưới hầm công sự, mình đào năm xưa...”.

NHÂM THÂN

Video tin tức được xem nhiều:

chuyện chưa kểtai nạn giao thông mới nhất ngày 13/8lịch thi đấu 12/8trục lợi bất chínhlàn đạnHạ Trung.địa đạoao dong phuc

Xem thêm tin chuyên mục Tin tức