`

Kinh doanh tại căn hộ chung cư: Hầu hết chưa có doanh nghiệp thực hiện

Thứ bảy, 19/11/2016 | 06:32 GMT+7

(ĐSPL) - Vừa qua Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội đã ra thông báo về việc không được kinh doanh tại căn hộ chung cư đối với các tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn thành phố.

Thực hiện quy định tại khoản 11, Điều 6 luật nhà ở năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2015) thì một trong các hành vi bị cấm là: sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở.

Theo quy định tại khoản 7, Điều 80, Nghị định số 99/2015/NĐ-CP, ngày 20/10/2015 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 10/12/2015) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật nhà ở về xử lý chuyển tiếp đối với việc phát triển và quản lý nhà ở: Trường hợp trong giấy tờ đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp có ghi sử dụng căn hộ chung cư làm địa điểm kinh doanh trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được cấp giấy tờ đăng ký kinh doanh này phải chuyển hoạt động kinh doanh sang địa điểm khác không phải là căn hộ chung cư trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành;cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ đăng ký kinh doanh phải làm thủ tục điều chỉnh lại địa điểm kinh doanh ghi trong giấy tờ đăng ký kinh doanh đã cấp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sang địa điểm khác trong thời hạn quy định tại Khoản này; quá thời hạn quy định tại Khoản này thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không được kinh doanh tại căn hộ chung cư.

Sở Kế hoạch và Đầu tư đề nghị các tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện một số nội dung cụ thể như sau:

Các tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn thành phố hà Nội không thực hiện việc đăng ký đặt trụ sở chính hoặc trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh tại các căn hộ trong nhà chung cư.

Trường hợp doanh nghiệp/hộ kinh doanh/tổ chức đã đặt trụ sở chính hoặc trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh tại các căn hộ trong nhà chung cư phải thực hiện đăng ký thay đổi trụ sở chính hoặc trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang địa điểm khác không phải là căn hộ trong nhà chung cư theo thủ tục quy định tại cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp theo thẩm quyền.

Trong thông báo, Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cũng nhấn mạnh các trường hợp vi phạm sẽ được các cơ quan liên quan kiểm tra và xử lý theo quy định. 

Trao đổi với chúng tôi ông Từ Danh Trung – đại diện cho Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội cho hay, quy định tại Điểm 11, Điều 6 khẳng định “không được sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở” là chưa rõ ràng. Trong Điều 80 của NĐ số 99/2015/NĐ-CP thì nhấn mạnh “không được đặt  địa điểm kinh doanh trong chung cư”.

“Phải hiểu rõ trụ sở doanh nghiệp và địa điểm kinh doanh là như thế nào. Nếu theo luật Doanh nghiệp thì trụ sở là nơi giao dịch của doanh nghiệp có địa chỉ trên lãnh thổ Việt Nam. Trong khi đó trụ sở doanh nghiệp được phân ra trụ sở gắn liền với địa điểm kinh doanh và một loại không gắn liền với địa điểm kinh doanh. Vậy phải đặt ra câu hỏi là cấm loại có địa điểm sản xuất kinh doanh hay cấm cả hai loại.” – Ông Trung nói.

Ông Trung cũng nói thêm, có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh các lĩnh vực đặc thù như kinh doanh online, hay dịch vụ văn phòng, phần mềm,...hầu hết những lĩnh vực này đều không ảnh hưởng ồn ào, gây mất trật tự an ninh khu vực thì sẽ ra sao?

Được biết, NĐ số 99/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ tháng 12/2015 thì cho đến nay đã vượt quá thời hạn thực hiện. Đối với những doanh nghiệp đã thành lập trước Nghị Định 99 đến thay đổi đăng ký kinh doanh có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm sản xuất ở chung cư thì sẽ dừng cấp giấy phép và đề nghị doanh nghiệp di chuyển ra nơi khác không nằm trong căn hộ chung cư.

“Đến thời điểm hiện tại số lượng doanh nghiệp chưa thực hiện việc làm thủ tục với Sở kế hoạch đầu tư về việc thay đổi trụ sở như quy định của Nghị Định.” – Ông Trung nhấn mạnh.

Điều 6/Luật nhà ở2014 . Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Xâm phạm quyền sở hữu nhà ở của Nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

2. Cản trở việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về nhà ở, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về sở hữu, sử dụng và giao dịch về nhà ở của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

3. Quyết định chủ trương đầu tư dự án hoặc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà ở không theo quy hoạch xây dựng, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt.

4. Xây dựng nhà ở trên đất không phải là đất ở; xây dựng không đúng tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn diện tích đối với từng loại nhà ở mà Nhà nước có quy định về tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn diện tích nhà ở. Áp dụng cách tính sai diện tích sử dụng nhà ở đã được luật quy định trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua nhà ở.

5. Chiếm dụng diện tích nhà ở trái pháp luật; lấn chiếm không gian và các phần thuộc sở hữu chung hoặc của các chủ sở hữu khác dưới mọi hình thức; tự ý thay đổi kết cấu chịu lực hoặc thay đổi thiết kế phần sở hữu riêng trong nhà chung cư.

6. Sử dụng phần diện tích và các trang thiết bị thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung vào sử dụng riêng; sử dụng sai mục đích phần diện tích thuộc sở hữu chung hoặc phần diện tích làm dịch vụ trong nhà chung cư hỗn hợp so với quyết định chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở và nội dung dự án đã được phê duyệt, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng.

7. Sử dụng sai mục đích nguồn vốn huy động hoặc tiền mua nhà ở trả trước cho phát triển nhà ở.

8. Chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở ủy quyền hoặc giao cho bên tham gia hợp tác đầu tư, liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh, góp vốn hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện ký hợp đồng cho thuê, thuê mua, mua bán nhà ở, hợp đồng đặt cọc các giao dịch về nhà ở hoặc kinh doanh quyền sử dụng đất trong dự án.

9. Thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở không đúng quy định của Luật này.

10. Cải tạo, cơi nới, phá dỡ nhà ở đang thuê, thuê mua, mượn, ở nhờ, được ủy quyền quản lý mà không được chủ sở hữu đồng ý.

11. Sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở; sử dụng phần diện tích được kinh doanh trong nhà chung cư theo dự án được phê duyệt vào mục đích kinh doanh vật liệu gây cháy, nổ, kinh doanh dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn hoặc các hoạt động khác làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ gia đình, cá nhân trong nhà chung cư theo quy định của Chính phủ.

12. Sử dụng nhà ở riêng lẻ vào mục đích kinh doanh vật liệu gây cháy, nổ, kinh doanh dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, sinh hoạt của khu dân cư mà không tuân thủ các quy định của luật về điều kiện kinh doanh.

13. Báo cáo, cung cấp thông tin về nhà ở không chính xác, không trung thực, không đúng quy định hoặc không đúng yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phá hoại, làm sai lệch thông tin trong cơ sở dữ liệu về nhà ở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Chú ý: Thông tin pháp lý trong hộp nội dung này được trích dẫn từ nguồn trên mạng Internet, nên chỉ có tính tham khảo.
Thanh Thủy

Clip đang được xem nhiều:

[mecloud]JXhB4mkJIK[/mecloud]

Bạn đang đọc bài viết Kinh doanh tại căn hộ chung cư: Hầu hết chưa có doanh nghiệp thực hiện tại chuyên mục Kinh doanh của Tạp chí Đời sống và Pháp luật. Mọi thông tin góp ý phản hồi xin gửi về hòm thư dsplonline.toasoan@gmail.com hoặc Hotline: 098.310.8812
Flipboard
kinh doanhchung cưdoanh nghiệp
Nguồn: Tinnhanhonline.vn

Xem thêm tin chuyên mục Kinh doanh