`

Bi kịch của chữ Kỳ 13: Câu chuyện về một đại úy biệt kích bị ta bắt ở Trường Sơn

Thứ năm, 19/05/2016 | 06:31 GMT+7

Sự kiện:

Bi kịch của chữ

(ĐSPL) - Trong mạch chuyện của cuốn sách “Bi kịch của chữ”, nhà báo Việt vừa kể lại những sự cố thăng trầm trong nghề báo khi anh bị bắt giam, vừa hồi tưởng lại ký ức chiến tranh mà anh từng trải qua cách đây mấy chục năm. Kỳ báo này anh lại tiếp tục hồi tưởng về những năm tháng trận mạc.

(Bản quyền tiểu thuyết tự truyện “Bi kịch của chữ” thuộc về tác giả Nguyễn Việt Chiến, mọi sao chép về tự truyện này (nếu có) trên các báo, các trang mạng, các báo điện tử khác… đều phải được sự đồng ý của tác giả, nếu tác giả không cho phép, đề nghị các báo không được sử dụng vì sẽ vi phạm bản quyền cuốn tiểu thuyết tự truyện này).

Không hiểu sao, có thời gian Việt cảm thấy trong mơ hồ, gương mặt người bạn tù nằm cùng buồng trong suốt mấy tháng bị biệt giam, lại gợi đến cho anh gương mặt của một tay đại úy biệt kích thuộc lực lượng đặc biệt của quân đội Sài Gòn mà anh đã từng đối mặt cách đây gần 40 năm ở vùng rừng biên giới Việt Lào, trên đường mòn Hồ Chí Minh phía Tây Trường Sơn.

Có thể vẻ mặt lãng tử, trụy lạc và chất kiêu bạc đậm chất dân thành thị của tay đại úy biệt kích hồi ấy phần nào đó giống với người tù cùng phòng với Việt bây giờ chăng? Anh như cảm thấy trong ký ức mình, hình ảnh những năm tháng chiến tranh khốc liệt ấy hiện về ngày một rõ nét trên thềm đá lạnh nơi lao tù này...

Ảnh minh họa

Thấy Việt nhìn mình với vẻ khó hiểu, người bạn tù ngạc nhiên: “Anh nhìn tôi kiểu gì đấy?”. “Anh thấy chú có gương mặt hao hao giống một tay đại úy biệt kích quân đội Sài Gòn bị đơn vị anh bắt sống ở Trường Sơn những năm chiến tranh”, Việt trả lời.

Hậu nheo mắt: “Hay đấy, anh kể cho tôi nghe chuyện về thằng cha ấy đi, lát nữa tôi sẽ tẩm quất hầu anh”. Việt bắt đầu câu chuyện: ...Mùa khô năm ấy, toán biệt kích của tay đại úy này nhảy dù xuống vùng hậu cứ của binh đoàn 559 với mục tiêu tiếp cận các kho quân nhu, vũ khí, xăng xe, quân y viện... của ta, để chỉ điểm cho máy bay ném bom rải thảm nhằm ngăn chặn con đường huyết mạch tiếp viện cho tiền tuyến đang xuyên suốt dãy Trường Sơn.

Toán biệt kích này cải trang thành một nhóm bộ đội thông tin của ta với trang bị hoàn toàn bằng vũ khí, quân trang của lính Trường Sơn lúc đó, với súng AK47, tăng võng, quần áo Tô Châu, đồ nghề của lính thông tin, riêng chỉ có máy điện đài liên lạc là của Mỹ được giấu kín trong ba lô con cóc.

Do vậy, trên đường mòn Trường Sơn, quân ta rất dễ nhầm chúng là một nhóm bộ đội của binh trạm nào đó đang trên đường đi kiểm tra, sửa chữa đường dây thông tin xuyên qua những cánh rừng.

Sau đó, toán biệt kích này bị tiêu diệt gần hết, chỉ còn duy nhất một tay đại úy người gốc Hà Nội bị thương, và bị ta bắt làm tù binh mà Việt từng đối mặt tại một binh trạm. Những câu chuyện hắn kể cho Việt nghe về cuộc đời lính trận trầm luân chó chết của hắn trong lực lượng quân đội Sài Gòn khiến Việt cứ chập chờn, thao thức giữa hai bờ suy tưởng...

...Chiếc máy bay trực thăng vũ trang bay ràn rạt trên những cánh rừng già sát biên giới Việt- Lào, phía Bắc Tây Nguyên. Toán biệt kích thuộc lực lượng thiện chiến cảm tử của quân đội Sài Gòn đang thực thi một phi vụ đặc biệt.

Gió đại ngàn thổi thốc lên, cuồn cuộn dưới vòng quay sầm sập của cánh quạt trực thăng. Cả một miền rừng hoang dại giấu trong mình bao điều bí mật đang trôi phần phật dưới cánh bay. Gió cuốn lên cao một mùi rừng nhiệt đới nguyên sinh cổ đại thật hoang dã và kỳ bí.

Tay đại úy ngồi cạnh cửa bên phải của chiếc trực thăng vũ trang, gần khẩu súng đại liên 6 nòng và dàn rốc-két hỏa lực “khủng”. Cỗ máy giết người biết bay cũng làm vững dạ toán biệt kích đang biết mình phải đi vào cõi âm u, xa vắng bên sườn phía Tây của dãy núi Trường Sơn để lần tìm dấu vết những binh trạm trên con đường mòn mang tên Hồ Chí Minh.

Màu xanh thăm thẳm hoang vu của đại ngàn Trường Sơn như muốn nuốt chửng mọi âm thanh gào rú của chiến tranh man rợ.

Năm 1954, hắn mới lên 10 tuổi và phải theo gia đình di cư vào Nam, bố đẻ hắn là bác sỹ của chế độ cũ và có quan hệ mật thiết với cơ quan Hồng thập tự của Mỹ. Bố hắn còn có ông chú làm quan năm phụ trách hậu cần trong quân đội liên hiệp Pháp. Bởi vậy, thay vì việc phải xuống Hải Phòng lên tàu di cư bằng đường biển như cả vạn người khác, gia đình hắn được máy bay Pháp đưa từ sân bay Gia Lâm, Hà Nội vào tận Sài Gòn.

Khác với những đứa trẻ con nhà giàu khác, hắn vốn cả nghĩ từ tấm bé và hay suy tư, mộng mị. Trong trí nhớ trẻ con của mình, hắn thấy thành phố tuổi thơ của mình đẹp đến lạ kỳ. Ngôi nhà cũ của bố mẹ hắn nằm gần Hồ Gươm gắn với truyền kỳ rùa thần.

Đã có bao ngày hắn thơ thẩn ven hồ mùa hạ cùng đám bạn trai, gái đồng tuổi, nhặt lá rụng và tìm bắt ve sầu. Màu hoa phượng rực rỡ ven Hồ Gươm thuở ấy, từng thắp lên trong ký ức tuổi thơ hắn một quầng sáng thao thức đến tận giờ.

Và, hắn cũng không sao quên được, dáng cầu Thê Húc vờn cong trong sương sớm cuối thu như một chiếc thuyền rồng, đang cưỡi sương đi rước cụ rùa thần về đình Trấn Ba để vua Lê mở hội trả gươm, kết thúc một mùa chinh chiến với quân xâm lược phương Bắc.

Hắn chợt nghĩ, không biết vì sao gươm báu đã trả lại cho rùa thần mà mấy trăm năm sau, lửa khói chiến chinh vẫn mù mịt trên khắp non sông điêu tàn này. Sau này, gần hai chục năm gắn bó với Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, hắn vẫn không sao quên được tình yêu thuở thiếu thời với Hà Nội, miền Đất Thánh - Hà Thành của hàng triệu người đã từng đến, từng sống và từng đi qua thành phố này.

Hôm nay, cùng chiến hữu trên chiếc trực thăng vũ trang bay qua nóc rừng đại ngàn của mái nhà Đông Dương, hắn thầm nghĩ không hiểu dưới cánh rừng âm u kia liệu có những người lính Việt cộng sinh ra và lớn lên ở Hà thành không?

Trong số họ, biết đâu đấy lại có mấy đứa bạn nhà ở vùng phố cổ, đã cùng với hắn từng lang thang ven Hồ Gươm thuở nào.

Hắn chột dạ, lát nữa thôi, khi hắn và chiến hữu đổ bộ từ chiếc trực thăng này xuống cánh rừng phía dưới, mà bất ngờ gặp họ, thì sao nhỉ? Không lẽ những thằng bạn thân thiết tuổi thơ ngày nào lại đối mặt sống chết với nhau ở vùng rừng hoang vu này?

Nghĩ đến đấy, hắn toát hết cả mồ hôi và miệng thầm thì dăm câu hát trong bài “Cho một người vừa nằm xuống” của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn:

“Anh nằm xuống, sau một lần đã đến đây

Đã vui chơi trong cuộc đời này

Đã bay cao trong vòm trời đầy

Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai

Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời

Ru anh ngủ, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi

Anh nằm xuống, cho hận thù vào lãng quên

Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn

Đất ôm anh đưa vào cội nguồn

Rồi từ đó, trong trời rộng, đã vắng anh

Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình

Nơi đây một lần, nhìn anh đến những xót xa đành nói cùng hư không

Bạn bè còn đó, anh biết không anh?

Người tình còn đó anh nhớ không anh?

Vườn cỏ còn xanh, mặt trời còn lên Khi bóng anh như cánh chim, chìm xuống

Vùng trời nào đó, anh đã bay qua?

Chỉ còn lại đây những sáng bao la

Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa

Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ

Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du

Đứa con xưa đã tìm về nhà

Đất hoang vu khép lại hẹn hò

Người thành phố, trong một ngày, đã nhắc tên

Những sớm mai, lửa đạn

Những máu xương chập chùng Xin cho một người vừa nằm xuống

Thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang”

Bài hát này, chỉ có những người lính từng bay trên cao như hắn mới thấm thía hết được nỗi người, nỗi đời, nỗi đau trong từng nét nhạc, từng ca từ buồn thảm về cuộc chiến tranh.

Nghe hắn lẩm nhẩm hát, người lính ngồi bên cạnh chia sẻ: -Thưa đại úy, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn viết bài hát này để viếng tặng người bạn thân là đại tá Lưu Kim Cương, Tư lệnh Không đoàn 33 đã bị tử thương trong trận giao chiến với Việt Cộng ở ven Sài Gòn trong tết Mậu Thân 1968 đó.

Bài hát viết vài ngày sau khi người bạn thân tử trận và ca sỹ Khánh Ly là người đầu tiên thu âm trên sóng phát thanh. Hắn gật đầu, nhìn qua cửa máy bay, hỏi mấy người ngồi cạnh: -Bên dưới cánh rừng kia, có người lính Việt Cộng nào vừa ôm súng vừa hát nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn không nhỉ?

Một người đáp: -Chắc cũng nhiều người hát đấy! Có mấy tù binh Việt Cộng ta bắt được, khai họ mê nhạc Trịnh và hát những ca khúc phản chiến của Trịnh suốt những đêm mưa, trong những đêm dài hành quân qua rừng thẳm, nhưng họ không dám hát công khai vì chỉ huy cấm không cho hát nhạc vàng.

Hắn tự hỏi mình: “Vậy tại sao những người lính cùng hát chung những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn lại phải bắn giết nhau trong những tháng năm này? Vô lý thật, vô lý đến mức không cắt nghĩa nổi. Lời ca phản chiến có lẽ chỉ ngủ trên môi những người lính đã ngã xuống, nhưng lời ca ấy luôn thao thức trên môi những người lính còn sống như một câu hỏi lớn về số phận con người và đất nước này trong những đêm trường chiến tranh?”...

(Còn tiếp)

Tiểu thuyết tự truyện của nhà thơ, nhà báo NGUYỄN VIỆT CHIẾN

Xem thêm video tin tức

[mecloud]AAPrBI9NJs[/mecloud]

Bạn đang đọc bài viết Bi kịch của chữ Kỳ 13: Câu chuyện về một đại úy biệt kích bị ta bắt ở Trường Sơn tại chuyên mục Tin trong nước của Tạp chí Đời sống và Pháp luật. Mọi thông tin góp ý phản hồi xin gửi về hòm thư dsplonline.toasoan@gmail.com hoặc Hotline: 098.310.8812
Flipboard
đâm bố dượng vì đánh mẹthi sỹVua dầu bếp nhíNguyễn Việt Chiếnnhà vănnhà báodu kíchđại úyTrường Sơn
Theo nguoiduatin.vn

Xem thêm tin chuyên mục Tin tức