`

Bi kịch của chữ kỳ 23: Trên chuyến bay vào Nam...

Thứ năm, 09/06/2016 | 13:28 GMT+7

Sự kiện:

Bi kịch của chữ

(ĐSPL) - Kỳ báo này, nhà báo Việt lại tiếp tục câu chuyện về những ngày tháng căng thẳng trước khi anh bị bắt giữ.

(Bản quyền tiểu thuyết tự truyện “Bi kịch của chữ” thuộc về tác giả Nguyễn Việt Chiến, mọi sao chép về tự truyện này (nếu có) trên các báo, các trang mạng, các báo điện tử khác… đều phải được sự đồng ý của tác giả, nếu tác giả không cho phép, đề nghị các báo không được sử dụng vì sẽ vi phạm bản quyền cuốn tiểu thuyết tự truyện này).

...Việt nhìn ra cửa sổ, thấy mình đang bay trên mây. Anh cảm nhận thấy dưới chân mình là một tầng trời và dưới tầng trời ấy là một cánh rừng mờ mịt. Khi ngước nhìn lên, anh thấy trên đầu mình còn nhiều tầng trời khác và thấy phía trên giấc mơ ngày hôm nay của mình còn nhiều cánh rừng còn mịt mù hơn.

Một cảm giác cô đơn bất trắc bao trùm lấy Việt trong chuyến bay ấy mà niềm tin cứu rỗi còn lại chỉ còn mỗi thi ca.

Trong những khoảnh khắc bất an ấy, Việt chỉ tự an ủi mình bằng thơ và lấy bút, giấy ghi vội những câu thơ trong bài thơ “Viết trên máy bay” vừa chợt hiện ra trong đầu: “Những người bay trên mây/ dưới chân họ là một tầng trời/ nhưng trên đầu họ còn nhiều tầng trời khác/ Những người bay trong mơ/ phía bên dưới giấc mơ của họ là một cánh rừng u ám/ nhưng phía trên giấc mơ của họ/ còn nhiều cánh rừng tăm tối hơn/ Những người bay qua đêm/ trong niềm tin của họ có một thứ ánh sáng riêng an ủi/ nhưng để vượt qua thất vọng và thất bại/ họ cần tới một thứ âm nhạc dẫn đường/ Những người bay trong mưa/ họ không bị ướt bởi sự thiếu vắng một chân trời ấm áp/ nhưng họ bị lạnh bởi sự cô đơn đang vây bọc mỗi con người”.

Bi kịch của chữ kỳ 23: Trên chuyến bay vào Nam... - Ảnh 1

Ảnh minh họa.

Khi Việt ghi vội lại bài thơ trên một tờ giấy rời, hình như cô gái ngồi cạnh anh nhìn thấy. Cô ta không tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng quan sát anh một cách kín đáo như muốn tìm hiểu xem những con chữ gì được ghi lại trên giấy. Điều ấy làm Việt cảnh giác, anh gập tờ giấy lại và cố che đi những con chữ.

Nhưng hình như Việt đã lầm. Cô gái ngồi cạnh anh bắt đầu lim dim mơ màng như sắp ngủ gật. Cô mặc một chiếc váy bằng vải bò thô mềm khá sành điệu, eo người khá hấp dẫn với đôi chân trần trắng bóc. Chẳng thèm quan sát ai nữa, cô ngả đầu ra phía sau, khuy áo ngực hớ hênh tụt một nút. Có người đàn ông ngồi nghế phía bên kia liếc mắt sang, nhìn trộm cô gái với vẻ thiếu tự tin của một kẻ muốn ăn vụng nhưng sợ người khác phát hiện. Một phần khuôn ngực trần của cô ta hé lộ sau làn áo mỏng nửa như khêu gợi, nửa như phản đối những cái nhìn thiếu tế nhị.

Trong lúc người kia ngắm nghía cô gái, Việt cũng tiếp tục viết nốt bài thơ mà không sợ ai nhìn thấy. Thế đấy, đến viết cũng mơ hồ cảm thấy hình như mình đang bị người khác theo dõi, và đấy chính là cảm giác luôn thường trực ở Việt suốt hơn 8 tháng bị giam trong nhà tù sau này.

Lúc xuống sân bay Tân Sơn Nhất, cái nắng gió phương Nam chợt ùa vào trong Việt như xoa dịu bớt sự căng thẳng của chuyến đi. Một người quen đưa xe con ra đón Việt tại cửa nhà ga sân bay và họ tới một quán cơm Bắc ăn chiều. Sau đó, anh ta đưa Việt về một khách sạn ở gần toà soạn báo của anh cho tiện việc đi lại.

Sau chuyến bay khá mệt mỏi, tối ấy Việt đi ngủ sớm. Sáng hôm sau, C. Tổng biên tập báo tới đón Việt đi ăn sáng. Dáng người to đậm và cử chỉ dứt khoát ở mọi động thái khi đối thoại với người khác khiến cho C. tạo được một sự ảnh hưởng nho nhỏ. Hai người vừa ăn, vừa tranh thủ trao đổi với nhau về những diễn biến mới nhất của việc Việt bị cơ quan điều tra thẩm vấn. C. động viên Việt và khẳng định sẽ không có chuyện bắt bớ gì đâu vì có nguồn tin thân cận đã xác định điều ấy.

Không hiểu vì sao, C. lại tin tưởng chắc chắn vào điều đó, trong khi Việt thì vẫn cho rằng vụ việc đang có chiều hướng xấu. Việt nói với Tổng biên tập C. chuyện này: “Mẹ tôi bảo tôi vào đây nói với C. rằng, C. phải luôn ở bên cạnh thằng Việt những lúc khó khăn vì cả cuộc đời làm báo của Việt đã cống hiến hết cho tờ báo này, phải cứu được Việt trong vụ việc này thì mới xứng danh là Tổng biên tập báo!”.

Lúc đó, C. còn cười vỗ vai Việt đùa cợt: “Nếu mày bị bắt vào tù, tao sẽ vào thay mày nghe! Cùng lắm, tao sẽ cử thằng Q. Phó Tổng biên tập báo vào ngồi tù thay mày!!!”. Nghe C. nói lạc quan như vậy, Việt cũng chỉ biết thế và an tâm phần nào. Nhìn Tổng biên tập C. lúc bấy giờ, Việt thấy C. rất tin tưởng vào lẽ công bằng trong vụ án này. Nhưng đấy lại chính là sự chủ quan thiếu thực tế đã khiến Việt và cả một số anh em trong toà soạn, trong đó có cả C. phải chịu trận sau này.

Trong chuyến đi ấy, Việt luôn nghĩ về người mẹ già của anh, vì lúc nào cũng lởn vởn trong đầu nỗi lo, nếu anh có bị làm sao thì mẹ sẽ là người suy sụp nhất vì mẹ đã hơn 80 tuổi, già yếu lắm rồi. Việt có cảm giác mình đã là đứa con bất hiếu, vì dường như anh không còn đủ thời gian để sửa chữa một lỗi lầm trước mẹ, để ở bên mẹ và săn sóc tuổi già của mẹ.

Bởi nếu Việt bị bắt thì đấy sẽ là một tai hoạ lớn đối với mẹ, người đặt niềm tin trông cậy vào anh rất nhiều. Niềm hy vọng duy nhất của Việt lúc ấy là đứa con trai lớn, cháu đã ở bên cạnh ông, bà nội từ nhiều năm nay và cháu gần như đã có thể thay anh để gần gũi ông bà lúc sớm tối.

Thương mẹ quá mà chẳng làm gì giúp mẹ được, Việt rưng rưng thấy mình có lỗi với mẹ và đã viết bài thơ “Thời gian nói gì?” trong chuyến đi này để thưa với mẹ những nỗi niềm trăn trở, day dứt đang ám ảnh Việt trong những ngày tháng đó: “Con không còn đủ thời gian/ để sửa chữa một lỗi lầm trước mẹ/ con cũng không đủ sức/ để buộc thời gian quay ngược lại/ cái ngày đầu tiên/ mẹ sinh ra con trên thế gian này/ Mẹ bảo con: Thời gian là đất/ con người đi vào đất/ như đi vào thời gian/ con người để lại trên đất/ những dấu chân cồn cào của hy vọng và khát vọng/ con người để lại trên đất/ những dấu chân ồn ào của cuồng vọng và thất vọng/ nhưng con người không để lại gì trong đất/ ngoài sự lặng yên/rồi mẹ bảo con: Thời gian là nước/ nước xóa trôi / mọi ưu phiền bụi bặm ở trong con/ nước xoa dịu những thương tích nhọc nhằn ở trong con/ những vết bẩn trên mặt con/ nước lau rửa hết/ thời gian là dòng chảy đầu tiên/ cũng là dòng sông cuối cùng/ con người đến tắm lúc trở về với mẹ/ Nhưng rồi/ thời gian không nói gì/ đất không nói gì/ và nước cũng không nói gì...”.

Khi viết bài thơ trên, Việt thực sự cảm thấy mình đang phải đối mặt với một nguy cơ đang đến rất gần- anh có thể bị bắt bất kỳ lúc nào, nếu họ muốn. Thật ra, chuyện này Việt cũng đã nói với Phó Tổng biên tập Q., người đồng nghiệp gần gũi nhất trong suốt gần hai chục năm Việt gắn bó với tờ báo. Việt đã một số lần tâm sự với Q. trong tâm trạng chán nản nhưng không ngại: “Nếu tôi bị họ bắt, ông cùng anh em trong báo lo giúp cho vợ con tôi, tôi sẽ đi tới cùng trong vụ này để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ báo. Tôi sẽ tận dụng thời gian bị giam cầm để làm thơ, để có thời gian viết những bài thơ hay nhất đời mình!”.

Nghe Việt nói, Phó Tổng biên tập Q. cười phá lên chia sẻ: “Ông cứ yên tâm vào trong ấy làm thơ, ngoài này vợ con ông, tờ báo sẽ có trách nhiệm”. Tuy Q. mạnh mồm nói thế, nhưng Việt biết trong thâm tâm mình, Q. không hề tin rằng Việt sẽ bị bắt. Bởi Q. tin tưởng vào những chứng cứ, tài liệu Việt thu thập được một cách khá thận trọng trong thời gian viết loạt bài điều tra về vụ án tham nhũng này.

Thậm chí, có một số thông tin “động trời” trong vụ án phức tạp này, Phó Tổng biên tập Q. biết rõ cả người đến tận toà soạn báo ở Hà Nội cung cấp tin cho Việt. Nên anh tin tưởng loạt bài điều tra của Việt đã nói lên sự thật của vụ án này. Khi mong manh linh cảm thấy chuyện có thể xảy ra, Việt bảo Q. “Mình phải bay vào Sài Gòn báo cáo với lãnh đạo của báo để trù liệu, tính toán trước khả năng xấu nhất cho anh em trong báo chủ động”. Q. đồng ý ngay và bảo văn phòng đặt vé máy bay cho Việt.

Trong vài ngày ở Sài Gòn, Việt đã tường trình hết với Tổng biên tập C. và các phó tổng biên tập khác về sự thật của vụ án này và các bằng chứng mà qua việc tác nghiệp Việt còn lưu giữ lại. Ban biên tập đã xem xét các bằng chứng liên quan đến việc điều tra vụ án này. Đặc biệt, Việt đưa ra nội dung ghi được từ 2 cuộn băng ghi âm buổi làm việc với sỹ quan V., điều tra viên của phòng được giao nhiệm vụ điều tra vụ án.

Sỹ quan V. đã nhiều lần trực tiếp tới toà soạn báo của Việt ở Hà Nội để cung cấp cho báo nhiều chi tiết quan trọng về việc điều tra vụ án này. Lúc sỹ quan V. cung cấp thông tin cho Việt tại toà soạn, buổi đầu tiên có mặt cả Phó Tổng biên tập Q.; buổi thứ hai, ngoài Việt và Q., còn có thêm cả Phó Tổng biên tập T. vừa từ Sài Gòn bay ra. Nội dung 2 buổi sỹ quan V. này cung cấp thông tin cho báo đều được Việt bí mật ghi âm lại để làm bằng chứng.

Sau khi nghe Việt trình bày xong về nội dung các băng ghi âm trên, các lãnh đạo báo đều cho rằng đây là những bằng chứng sự thực về vụ án này, là bằng chứng sống còn đối với Việt và tờ báo. Mọi người tỏ ra rất yên tâm và tin tưởng vào quá trình tác nghiệp khá thận trọng của Việt trong việc nắm bắt các thông tin điều tra từ vụ án phức tạp này. Là một người khá cẩn thận và cũng để đề phòng chuyện mình có khả năng bị bắt, trong mấy ngày ở Sài Gòn, Việt đã âm thầm viết một loạt bài báo tường trình lại quá trình điều tra tác nghiệp, thu thập thông tin để viết các bài về vụ án nghiêm trọng nói trên.

Việt đưa bản thảo những bài viết chuẩn bị trước cho một số người có trách nhiệm trong ban biên tập, cùng với những bằng chứng kèm theo, và nói: “Nếu họ khởi tố, bắt tôi, các anh cứ việc lần lượt đăng những bài viết này trên báo mình, để cho độc giả cả nước thấy rõ của vụ án này...”. Lúc đó, Phó Tổng biên tập T. đã nói vui để động viên Việt: “Họ không dám làm chuyện ấy đâu...”. Sau này, Việt không ngờ câu nói của Phó Tổng biên tập T. đã trở thành một sự thật nghiệt ngã.

Tiểu thuyết tự truyện của nhà thơ, nhà báo NGUYỄN VIỆT CHIẾN

[mecloud]iR2Dhr3prr[/mecloud]

Bạn đang đọc bài viết Bi kịch của chữ kỳ 23: Trên chuyến bay vào Nam... tại chuyên mục Tin trong nước của Tạp chí Đời sống và Pháp luật. Mọi thông tin góp ý phản hồi xin gửi về hòm thư dsplonline.toasoan@gmail.com hoặc Hotline: 098.310.8812
Flipboard
đâm bố dượng vì đánh mẹquay clip nóng tống tiềnnhập khẩu chất thảichiến trườngTrương Đức Giangnhà thơnhà báoNguyễn Việt Chiếnđắp mặt nạ

Xem thêm tin chuyên mục Tin tức