`

Bi kịch của chữ kỳ 25: Vầng mây ấm diệu kỳ trong đêm

Thứ tư, 15/06/2016 | 13:28 GMT+7

(ĐSPL) - Kỳ báo trước, nhà báo Việt kể lại câu chuyện xảy ra với tay đại úy biệt kích và một nữ chiêu đãi viên chiến trường trên cao điểm tử thần. Kỳ báo này, anh lại trở về với thực tế khắc nghiệt những ngày bị giam giữ. 

Bản quyền tiểu thuyết tự truyện “Bi kịch của chữ” thuộc về tác giả Nguyễn Việt Chiến, mọi sao chép về tự truyện này (nếu có) trên các báo, các trang mạng, các báo điện tử khác... đều phải được sự đồng ý của tác giả, nếu tác giả không cho phép, đề nghị các báo không được sử dụng vì sẽ vi phạm bản quyền cuốn tiểu thuyết tự truyện này.

... Hai người tù ngồi chồm hỗm trên bục xi măng, ăn bữa chiều nguội ngắt chỉ có cơm với một bát canh rau muống nhạt thếch. Việt lấy hộp nhựa đựng ruốc thịt lợn gia đình gửi vào để hai anh em ăn thêm. May là Việt và người cùng buồng tên là Hậu đều ở Hà Nội, nên được người nhà tiếp tế đồ ăn và tiền gửi vào lưu ký để mua thực phẩm. Hậu cho biết, nhiều tù nhân nhà ở xa, không mấy khi gửi đồ ăn tiếp tế nên họ phải sống rất kham khổ, thiếu thốn đủ thứ. Việt thấy mình vẫn còn may hơn khối người ở trại giam này. Sau một tuần bị bắt, trại bắt đầu cho anh ăn thêm. Một điều tra viên bảo, vì Việt ra máu nhiều nên họ báo cho bếp của trại mỗi ngày cho anh thêm mười ngàn đồng thức ăn. Từ đó, mỗi ngày, ngoài tiêu chuẩn chung cơm, canh như mọi tù nhân khác, họ cho Việt hơn chục miếng thịt rang hoặc dăm ba quả trứng luộc. Thỉnh thoảng còn được dăm miếng thịt gà hoặc thay bằng mấy quả chuối tây.

Ảnh minh họa.

Hậu nói: “Anh nhà báo này được ăn tiêu chuẩn đặc biệt đấy, chẳng tù nhân nào ở đây được ăn như anh đâu”. Việt thắc mắc, khi người gánh cơm cho tù nhân đi qua các buồng, Việt vẫn thấy anh ta cầm mấy túi nilon đựng đồ ăn thêm cho người khác, chứ đâu phải chỉ mình Việt được tiêu chuẩn này. Hậu bảo, chắc còn mấy ông cũng vào loại “đặc biệt” như anh. Sau này, Việt mới biết, cả ba người bị bắt giam trong vụ án này đều được tiêu chuẩn ăn thêm hàng ngày. Vậy là cơ quan điều tra cũng đã có mối quan tâm khá đặc biệt đối với họ.

Ăn cơm chiều xong, Hậu tranh phần rửa bát. Anh ta kém Việt khoảng chục tuổi. Hậu bảo: “Anh rửa bát bẩn lắm, để anh rửa rồi em phải rửa lại cũng quá tội, thôi bác cứ để đấy cho em”. Thật ra, từ hôm bị bắt đến nay, cả tuần Việt đau lưng đến bại cả cột sống, không ngồi xổm lâu được, nên phải ngồi rửa bát là cả một cực hình. Ngoài những giờ phải đi cung (xét hỏi), Việt nằm bê bệt trong buồng giam. Bệnh trĩ hành hạ anh đến khổ. Cứ sớm dậy, hai anh em phải tranh thủ đi vệ sinh, bệ xí ở ngay cuối bệ nằm. Hậu có vẻ khó chịu nhưng cũng phải thông cảm vì Việt bị trĩ nên hay đi vặt.

Mỗi tuần, các tù nhân buộc phải cạo râu một lần vào thứ Hai. Trong trại giam, mọi người không được phép để râu. Một chiếc bàn cạo và một lưỡi dao cạo, mấy buồng dùng chung. Việt rất ngại mỗi lần phải cạo râu vì lo rằng vi rút HIV có thể lây nhiễm qua lưỡi dao cạo dùng chung giữa các tù nhân. Khi Việt hỏi chuyện này, một quản giáo bảo: “Những người vào trại này đều được thử HIV rồi, không lây nhiễm đâu mà anh sợ!”.

Họ cho Việt uống thuốc cầm máu khoảng một tuần rồi bắt đầu chiến dịch hỏi cung. Hai điều tra viên (có hôm 3 người) hỏi cung anh liên tục từ sáng đến chiều tối (trừ bữa cơm trưa). Việt cảm thấy hình như trong lúc hỏi cung, họ ghi âm và ghi hình bí mật truyền xuống tầng dưới. Ở đấy, trong căn buồng chỉ huy, một số người chỉ huy chuyên án này ngồi nghe và điều hành việc hỏi cung anh. Thỉnh thoảng, họ lại cho người lên gác, vào buồng cung đưa cho các điều tra viên giấy tờ gì đó và việc hỏi cung liền chuyển sang một hướng khác, nhằm khai thác sâu hơn những gì họ muốn biết. Chắc họ cũng không thể ngờ Việt lại “rắn” đến thế. Trong suốt 5 tháng hỏi cung, Việt vẫn khăng khăng mình vô tội và đưa ra đủ các bằng chứng, lý lẽ để chứng minh chuyện đó.

Những ngày nằm trong trại giam, Việt làm khá nhiều thơ. Nếu như không có thi ca và không có hình bóng một người con gái trong tâm tưởng, có lẽ anh đã làm chuyện dại dột. Việt thầm lặng với sự quả cảm và nghị lực phi thường của một người lính thực thụ, để vượt qua sự giày vò của cô đơn, để vượt qua những giây phút yếu lòng và mệt mỏi. Có thể, những trải nghiệm của một người lính từng đi qua chiến tranh cách đây gần bốn chục năm đã giúp anh đứng vững được qua những tháng ngày hiểm nghèo nhất của cuộc đời một nhà báo. Giờ phút này, khi phải đối mặt với bốn bức tường giam lạnh lẽo, cáu bẩn, tăm tối và tuyệt vọng kia, Việt chỉ còn thi ca và giấc mơ lạ lùng về một người con gái thân yêu như vầng mây ấm diệu kỳ luôn có mặt bên anh trong một đời sống khác, trong một hành trình khác, trong một giấc mơ khác ở nơi địa ngục này.

...Việt nhớ, ngày mới quen nhau, nàng bảo:

-Em yêu anh vì anh là nhà báo, anh viết báo, chứ nói thật, thơ anh chả giúp ích gì cho đời!

Việt cười gượng, cố giấu nỗi buồn:

 -Thế nhưng cũng chính vì thơ mà chúng mình quen nhau. Em ngày còn sinh viên cũng là người làm thơ và phụ trách câu lạc bộ thơ trẻ của trường em đấy chứ! Ngày ấy, anh đã vào tận ký túc xá đại học nơi em đang ở để tặng em một bông hồng rõ to và tặng em một tập thơ mới xuất bản của anh.

Nàng cười:

-Ban đầu, em chỉ ấn tượng về bông hồng đặc biệt đó thôi, nó như một đám mây đỏ tình cờ bay lạc vào căn phòng ký túc xá xám ngoét nơi em ở. Và, em ngờ ngợ anh đã tỏ tình bằng hoa hồng chứ không phải bằng thơ. Vì thơ tình của anh có thể lãng mạn kiểu tán gái chứ không thành thật như hoa. Anh có thể viết tặng thơ ấy cho bất kỳ một cô gái nào khác trước đó, rồi khi gặp em, anh lại bảo anh viết tặng em bài thơ này. Làm sao mà tin được mấy ông nhà thơ nhất là ông ấy lại đang viết báo hùng hục như anh?

Việt lại gượng cười, vẫn thấy đau:

-Thơ giả dối đến thế mà tán vẫn cứ đổ, em nhỉ?

Nàng ráo hoảnh:

-Đổ là vì bông hồng ấy thôi! Mấy con bạn em cùng phòng sau khi anh về cứ như phát rồ cả lên khi biết anh là nhà thơ, nhà báo khá nổi tiếng. Chúng nó rất ấn tượng cách nói chuyện của anh về thi ca và đặc biệt là những chuyện hậu trường báo chí. Anh đã hút hồn chúng nó, còn em thì không!

Việt bực:

-Thế mà sau đó, rủ đi chơi là đi liền. Hôn cái đầu tiên, sau rồi còn thắc mắc, sao hôm ấy anh ta chỉ hôn mà không dám làm gì? Rõ là đồ chảnh, cứ giả vờ giả vịt vậy thôi! Chẳng bõ mấy hôm sau, yêu đương mút mùa luôn.

Nàng không bực:

-Anh tán đổ em chẳng qua là vì mấy con bạn em “đổ trước” khi nghe anh nói chuyện. Chúng bảo em: “Nếu anh ấy tán tớ là tớ đổ liền, theo anh ấy liền”. Vậy là chỉ vì ghen mà em yêu anh và cũng vì bông hồng anh tặng hôm ấy thật to, cuống hoa dài thắt chiếc nơ vàng thật đẹp, đúng màu em thích, nó như một đám mây đỏ rực nở trong căn buồng u ám, chật chội của tụi em! Từ bé đến giờ chưa ai tặng em bông hồng nào đặc biệt ấn tượng đến vậy.

Việt càng bực:

-Vậy, em yêu người hay là yêu hoa? Yêu người viết báo hay yêu người làm thơ? Nói thật đi nếu không anh lại bỏ đi đây, đếch thèm vào yêu nữa bây giờ!

Nàng ghì chặt đầu Việt vào ngực, mấy ngón tay âu yếm của nàng cứ lùa vào mái tóc bù xù, quăn queo của anh. Việt chợt nghĩ: Mình ngu thật, đàn bà vốn thế, họ bảo yêu bông hoa anh tặng chính là họ yêu anh rồi, cần gì phải nói thêm nữa. Đến hoa còn yêu nữa là thơ anh viết tặng họ. Vì thơ mới đích thực là tiếng vọng cao quý nhất của tinh thần. Nhưng họ chẳng muốn nói ra điều ấy, vì cả thơ và hoa suy cho cùng, đều là tặng phẩm của tâm hồn. Mà tâm hồn thì thiêng liêng lắm, không phải lúc nào cũng bộc lộ, chia sẻ được.Và, nếu không yêu anh thì tại sao nàng lại dâng hiến cho anh. Mình đích thực là một thằng ngu lâu!

N.V.C (Còn tiếp)

Video tin tức xem nhiều nhất:

[mecloud]sy1aPpMV0S[/mecloud]

Bạn đang đọc bài viết Bi kịch của chữ kỳ 25: Vầng mây ấm diệu kỳ trong đêm tại chuyên mục Tin trong nước của Tạp chí Đời sống và Pháp luật. Mọi thông tin góp ý phản hồi xin gửi về hòm thư dsplonline.toasoan@gmail.com hoặc Hotline: 098.310.8812
Flipboard
đâm bố dượng vì đánh mẹbi kịchcông an cầu giấytiểu thuyếttruyện ngắnNguyễn Việt Chiếnnhà báonhà thơ

Xem thêm tin chuyên mục Tin tức